AICoKhi.comAI Cơ Khí
Lập trình CNC và CAM

Giảm thời gian chu kỳ gia công CNC: tìm chỗ mất thời gian trước khi tăng tốc độ cắt

Phân tích thời gian chu kỳ CNC: chạy không, cắt không khí, thay dao, dừng máy, gá đặt; cách rút ngắn từng phần và khi nào mới nên tăng chế độ cắt.

A machinist seen from behind holding a stopwatch beside a running vertical machining center with closed doors in a Ho Chi Minh City factory, motion blur of coolant behind glass

Muốn giảm thời gian chu kỳ CNC, hãy đo trước rồi mới sửa: tách thời gian thành cắt thật, chạy không, thay dao, dừng máy và gá đặt, rồi xử lý phần lãng phí lớn nhất. Ở nhiều chương trình, thời gian dao không cắt gì chiếm một phần đáng kể, và rút ngắn phần đó không làm dao mòn thêm. Tăng tốc độ cắt là bước sau cùng, vì nó đổi thời gian máy lấy tuổi bền dao và rủi ro.

Bài này dành cho người lập trình và chủ xưởng muốn máy làm ra nhiều chi tiết hơn trong một ca mà không mua thêm máy. Các con số trong bài là ví dụ giả định để minh hoạ cách tính; chế độ cắt thật lấy từ catalog dụng cụ và khuyến nghị nhà sản xuất. Mọi thay đổi chương trình, dù chỉ để rút ngắn thời gian, đều phải mô phỏng và chạy thử lại như chương trình mới.

Thời gian chu kỳ gồm những phần nào và đo thế nào

Một chu kỳ, tính từ lúc bấm chạy tới lúc lấy được chi tiết ra và bấm chạy chi tiết kế tiếp, gồm năm phần. Cắt thật: dao đang bóc vật liệu. Chạy không: chạy nhanh giữa các vị trí, rút dao, và cả những đoạn dao chạy ở lượng chạy dao cắt nhưng không chạm vật liệu, thường gọi là cắt không khí. Thay dao: từ lúc dao cũ rời phôi tới khi dao mới bắt đầu cắt. Dừng: những lần M00 để lật phôi, thổi phoi, đo giữa chừng. Gá đặt: tháo chi tiết xong, làm sạch, kẹp phôi mới.

Cách đo đơn giản nhất là đứng cạnh máy với đồng hồ bấm giờ và tờ giấy chia cột, ghi từng phần trong vài chu kỳ. Nhiều bộ điều khiển có bộ đếm thời gian chạy và thời gian cắt; một số phần mềm CAM ước tính thời gian theo từng nguyên công, nhưng con số ước tính thường lệch vì không tính đúng gia tốc của máy và thời gian thay dao thật.

Ví dụ giả định: một chi tiết chu kỳ 12 phút, đo ra cắt thật 6 phút, chạy không 2 phút, thay dao 1 phút rưỡi với chín dao, dừng một lần lật phôi mất 1 phút, gá đặt 1 phút rưỡi. Nhìn bảng này, tăng tốc độ cắt 10 phần trăm chỉ bớt được khoảng nửa phút, trong khi chạy không, thay dao và dừng cộng lại là 4 phút rưỡi. Đó là chỗ nên nhìn trước.

Các nguồn mất thời gian và hướng xử lý

Bảng dưới liệt kê những chỗ thường thấy khi rà chương trình ở xưởng vừa và nhỏ. Không phải chỗ nào cũng sửa được trên mọi máy; cột cuối nêu rủi ro cần kiểm khi thay đổi.

NguồnBiểu hiệnHướng xử lýRủi ro khi sửa
Cao độ rút quá caoDao lên tận cao độ an toàn giữa mọi lượtRút về mặt phẳng rút thấp hơn khi không có vật cảnQuét qua kẹp nếu mô hình đồ gá thiếu
Cắt không khíDao chạy lượng chạy dao cắt quanh vùng đã hết vật liệuCập nhật mô hình phôi trong CAM, dùng phay phần còn lạiMô hình phôi sai thì cắt vào vật liệu ở tốc độ không phù hợp
Thứ tự lỗ không tối ưuDao nhảy qua lại giữa các lỗ xa nhauSắp lại thứ tự theo đường ngắnThay đổi chuẩn của lỗ cần dung sai vị trí chặt
Nhiều lần thay daoCùng một dao được gọi lại nhiều lầnGom nguyên công theo dao, giảm số loại daoĐổi thứ tự cắt có thể ảnh hưởng biến dạng chi tiết
Dừng lật phôiMỗi chu kỳ dừng một lần để đổi mặtHai đồ gá cho hai nguyên công trên cùng bànCần đồ gá chính xác, chạy thử lại
Gá đặt chậmThợ mất thời gian căn, xiết, làm sạchĐồ gá định vị nhanh, dụng cụ xiết sẵn cạnh máyĐịnh vị nhanh mà không chính xác thì sai hàng loạt

Điểm chung: mỗi cách xử lý đều phải kiểm lại bằng mô phỏng và chạy thử, vì thời gian tiết kiệm được mất sạch chỉ với một lần va dao.

Giảm chạy không và cắt không khí trong chương trình

Dùng đúng mặt phẳng rút trong chu trình khoan. Trên máy phay kiểu Fanuc, chu trình khoan có hai chế độ rút: về độ cao ban đầu hoặc về mặt phẳng R ngay trên phôi. Giữa các lỗ không có vật cản, rút về R tiết kiệm đáng kể khi có hàng chục lỗ. Khi giữa hai lỗ có kẹp, rút về độ cao ban đầu cho lỗ đó.

Cho CAM biết phôi thật. Nếu mô hình phôi là khối hộp lớn hơn phôi thật, CAM sẽ tạo lượt cắt ở những vùng không có vật liệu. Với phôi đúc, phôi đã gia công ở nguyên công trước, dùng mô hình phôi đúng hoặc kết quả mô phỏng nguyên công trước làm phôi.

Kiểm cách nối giữa các lượt. Một số cài đặt nối các lượt bằng chuyển động lượng chạy dao cắt thay vì chạy nhanh, để an toàn. Ở vùng thoáng, đổi sang chạy nhanh có thể tiết kiệm nhiều. Ở vùng có vật cản thì giữ nguyên.

Chú ý gia tốc thực tế. Đường chạy toàn đoạn ngắn và góc gắt làm máy liên tục tăng giảm tốc, không bao giờ đạt lượng chạy dao lập trình. Làm tròn góc trong đường chạy thô, dùng chế độ xử lý đường cong mượt của bộ điều khiển nếu có, giúp tốc độ thực gần với tốc độ đặt hơn.

Đừng bỏ dòng an toàn. Rút gọn chương trình không có nghĩa là xoá dòng an toàn đầu chương trình hay đoạn rút dao trước thay dao. Những dòng đó tốn vài giây và giữ chương trình chạy đúng sau mỗi lần dừng giữa chừng.

Giảm số lần và thời gian thay dao

Gom nguyên công theo dao. Nếu một dao khoan tâm được gọi ba lần cho ba nhóm lỗ, sắp lại để nó làm hết một lượt. Phần mềm CAM thường có tuỳ chọn sắp xếp theo dao; kiểm thứ tự mới không làm hỏng chuẩn gia công.

Giảm số loại dao. Hai lỗ đường kính gần nhau có thể dùng chung một dao phay bằng nội suy thay vì hai mũi khoan riêng. Một dao vát mép có mũi nhọn có thể làm luôn khoan tâm cho một số loại lỗ. Mỗi dao bớt đi là bớt một lần thay và một ô bù cần quản lý.

Chọn trước dao kế tiếp. Trên nhiều máy có ổ dao kiểu tay thay dao, viết số dao kế tiếp ngay sau lệnh thay dao hiện tại cho phép ổ dao xoay chuẩn bị trong lúc dao hiện tại đang cắt. Cách viết và hiệu quả phụ thuộc nhà chế tạo máy; kiểm sổ tay trước khi dùng.

Thay dao gần. Một số máy cho phép thay dao mà không về hết hành trình Z, hoặc có vị trí thay dao cấu hình được. Đây là thiết lập của máy, cần người hiểu máy thực hiện.

Đo dao ngoài máy. Đo chiều dài và đường kính dao trên thiết bị đo dao ngoài máy trong lúc máy đang chạy chi tiết khác, nhập sẵn vào bảng bù, giảm thời gian máy đứng chờ khi chuyển sang chi tiết mới.

Gá nhiều chi tiết và loại bỏ lần dừng lật phôi

Khi chi tiết nhỏ, gá nhiều chi tiết trên một bàn là cách tăng năng suất hiệu quả: thời gian thay dao được chia cho nhiều chi tiết, người đứng máy kẹp cả loạt trong lúc máy chạy loạt khác nếu máy có hai bàn hoặc hai vị trí kẹp. Chương trình dùng mỗi vị trí một hệ toạ độ, từ G54 trở đi, gọi cùng một chương trình con cho từng vị trí.

Cách gọi chương trình con cần cẩn thận với thứ tự: chạy dao số 1 cho tất cả vị trí rồi mới thay dao số 2, thay vì làm xong một chi tiết rồi mới chuyển vị trí. Thứ tự đầu giảm số lần thay dao, nhưng một lỗi ở một vị trí ảnh hưởng tất cả.

Lần dừng lật phôi có thể loại bỏ bằng cách đặt hai đồ gá cạnh nhau: một cho nguyên công thứ nhất, một cho nguyên công thứ hai. Mỗi chu kỳ, máy làm nguyên công một trên phôi mới và nguyên công hai trên chi tiết vừa làm xong mặt một. Mỗi lần mở cửa, người đứng máy lấy ra một chi tiết hoàn chỉnh, chuyển một chi tiết từ đồ gá một sang đồ gá hai, kẹp thêm một phôi mới. Chu kỳ dài hơn một chút nhưng mỗi chu kỳ ra một chi tiết hoàn chỉnh và không có lần dừng giữa chừng.

Thay đổi kiểu này cần đồ gá đủ chính xác và lặp lại được, nằm ở khâu quy trình công nghệ hơn là lập trình. Người lập trình góp phần ở chỗ cấu trúc chương trình rõ ràng, dễ tắt một vị trí khi đồ gá đó có vấn đề.

Khi nào mới nên tăng chế độ cắt

Sau khi đã giảm chạy không, thay dao và dừng máy, phần còn lại là thời gian cắt thật, và lúc này mới nên xem tới chế độ cắt. Mối quan hệ giữa vận tốc cắt và tuổi bền dao đã được F. W. Taylor mô tả từ đầu thế kỷ 20 trong các nghiên cứu về cắt kim loại: tăng vận tốc cắt làm tuổi bền dao giảm nhanh hơn nhiều so với tỷ lệ tăng vận tốc. Dạng định lượng cụ thể và hệ số phụ thuộc vật liệu dao, vật liệu phôi, điều kiện cắt; catalog dao hiện đại thường đã tính sẵn vùng làm việc hợp lý.

Vì thế quyết định tăng chế độ cắt là bài toán cân chi phí: thời gian máy tiết kiệm được so với số dao tiêu hao thêm, số lần dừng thay dao thêm, và rủi ro bề mặt hoặc kích thước không ổn định. Xưởng có giờ máy đắt và dao rẻ có lời giải khác xưởng ngược lại. Bạn tính theo số liệu của chính xưởng mình.

Nhiều trường hợp, đổi chiến lược chạy dao mang lại nhiều hơn tăng số. Phay thô thích nghi với chiều sâu lớn, dùng dao có nhiều răng hơn cho tinh, dùng làm mát qua tâm cho khoan lỗ sâu thay vì khoan mổ nhiều lần là ví dụ. Chế độ cắt chi tiết thuộc danh mục quy trình công nghệ và chế độ cắt của trang; ở đây chỉ nhắc rằng đó là bước sau cùng.

Dùng AI phân tích chương trình tìm chỗ mất thời gian

AI đọc văn bản chương trình khá tốt cho những việc đếm và tìm mẫu lặp, những việc mắt người làm chậm.

  1. Che thông tin khách, chép chương trình hoặc phần đầu và các đoạn thay dao. Nếu chương trình quá dài, chép danh sách các dòng thay dao và các dòng chạy nhanh.
  2. Câu lệnh gợi ý: "Đây là chương trình phay ba trục kiểu Fanuc. Đếm số lần thay dao và liệt kê dao nào được gọi nhiều hơn một lần. Liệt kê các chu trình khoan và chế độ rút đang dùng. Tìm những đoạn rút lên cao độ lớn giữa hai vị trí gần nhau. Trình bày dạng bảng, không đề xuất chế độ cắt."
  3. Đưa thêm bảng đo thời gian thực tế, nhờ AI sắp các cơ hội theo thời gian ước tiết kiệm, ghi rõ giả định nó dùng.
  4. Đối chiếu từng đề xuất với hình học thật: chỗ đề xuất rút thấp có kẹp không, chỗ đề xuất gom dao có ảnh hưởng chuẩn không.
  5. Sửa trên CAM thay vì sửa tay tệp chương trình nếu được, để bản nguồn luôn đúng.
  6. Mô phỏng, chạy thử, đo lại thời gian, ghi kết quả trước và sau vào nhật ký chương trình.

Kết quả đo trước và sau là thứ thuyết phục được chủ xưởng và người đứng máy thay đổi thói quen, hơn mọi lời giải thích.

Câu hỏi thường gặp

Thời gian CAM ước tính khác thời gian thật nhiều thì tin con số nào?

Tin thời gian đo thật trên máy. CAM thường giả định máy đạt ngay lượng chạy dao đặt, không tính đủ gia tốc, thời gian thay dao, thời gian trục chính tăng tốc. Một số phần mềm cho nhập thông số máy để ước tính sát hơn, nhưng vẫn nên đối chiếu với đo thật để hiệu chỉnh.

Tăng núm giảm tốc cắt lên trên 100 phần trăm có phải cách giảm thời gian nhanh không?

Đó là cách nhanh nhưng mù: mọi đoạn đều tăng như nhau, kể cả đoạn đang ở giới hạn của dao. Nếu chương trình chạy ổn ở mức cao hơn, nên đưa thay đổi về chương trình hoặc CAM với chế độ cắt theo từng nguyên công, để lần sau không phụ thuộc thói quen của người đứng máy.

Gá nhiều chi tiết có làm tăng rủi ro không?

Có. Một lỗi setup hay chương trình ảnh hưởng tất cả chi tiết trên bàn, và một chi tiết bị lỏng có thể làm hỏng dao rồi kéo theo các chi tiết khác. Cần đồ gá chắc chắn, kiểm từng vị trí kẹp, và chương trình cho phép bỏ qua một vị trí khi cần.

Giảm thời gian chu kỳ có ảnh hưởng chất lượng không?

Giảm chạy không và thay dao thường không ảnh hưởng chất lượng. Tăng chế độ cắt hoặc giảm số lượt tinh có thể ảnh hưởng bề mặt, kích thước và biến dạng nhiệt. Sau mỗi thay đổi, đo chi tiết đầu đầy đủ và theo dõi vài chi tiết tiếp theo trước khi coi là ổn định.

Có nên rút ngắn chương trình bằng cách bỏ M01?

M01 chỉ dừng khi công tắc dừng tuỳ chọn được bật, nên khi chạy sản xuất với công tắc tắt nó không tốn thời gian. Giữ M01 trong chương trình giúp chạy thử và kiểm tra dao sau này. Không cần xoá để tiết kiệm thời gian.

Nên bắt đầu tối ưu từ chi tiết nào trong xưởng?

Bắt đầu từ chi tiết chạy nhiều nhất tính theo tổng giờ máy trong tháng, không phải chi tiết có chu kỳ dài nhất. Một chi tiết chu kỳ ngắn nhưng chạy hàng nghìn cái mỗi tháng, bớt vài giây mỗi cái, tiết kiệm nhiều giờ máy hơn chi tiết làm vài cái mỗi tháng.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926 138 138