AICoKhi.comAI Cơ Khí
Dung sai, lắp ghép và đo lường

Chọn lắp ghép cho ổ lăn, bạc, chốt định vị và then: đọc đúng ý người thiết kế

Lắp ổ lăn theo vòng quay, bạc ép bị co lỗ, chốt định vị và rãnh then: lý do chọn từng kiểu lắp và những lỗi xưởng hay mắc khi gia công, lắp ráp.

Mechanic in gloves pressing a ball bearing onto a shaft with a hand press in a maintenance bay in Dong Nai, viewed from the side, faces out of frame, neutral light

Chọn lắp ghép không phải tra một bảng rồi chép, mà là trả lời câu hỏi chi tiết nào quay, chịu tải theo hướng nào, có phải tháo ra khi bảo trì không. Cùng một trục, chỗ lắp ổ lăn, chỗ lắp bánh răng có then và chỗ lắp phớt chặn dầu thường mang ba ký hiệu khác nhau. Thợ hiểu lý do sẽ biết chỗ nào phải giữ thật sát vùng dung sai, chỗ nào có thể nới tay, và nhận ra khi bản vẽ bị ghi nhầm.

Bài này đi qua bốn nhóm chi tiết hay gặp nhất ở xưởng và tổ bảo trì: ổ lăn, bạc trượt, chốt định vị và mối ghép then. Các vùng dung sai nêu ra là những lựa chọn hay thấy trong sổ tay và catalog; lựa chọn cuối cùng thuộc về người thiết kế, dựa trên tải, tốc độ, nhiệt độ và khuyến nghị của nhà sản xuất ổ.

Ổ lăn: vòng nào quay thì vòng đó phải lắp chặt

Nguyên tắc đầu tiên khi lắp ổ lăn là xét tải quay so với từng vòng. Ở đa số trục máy, trục quay còn thân ổ đứng yên, tải có hướng cố định như lực căng đai hay trọng lượng. Khi đó vòng trong quay cùng trục và mỗi điểm trên vòng trong lần lượt đi qua vùng chịu tải, gọi là tải quay với vòng trong. Vòng này phải lắp có độ dôi lên trục, nếu không nó sẽ bò dần quanh trục, mài mòn bề mặt trục và sinh nhiệt. Vòng ngoài chịu tải cố định một điểm, có thể lắp lỏng hơn trong thân ổ.

Trường hợp ngược lại là các cụm mà thân quay còn trục đứng yên, như moay ơ bánh xe đẩy, puly căng đai quay trên trục cố định. Lúc này vòng ngoài chịu tải quay và phải lắp chặt vào thân, còn vòng trong lắp lỏng hơn trên trục. Lắp nhầm nguyên tắc này là nguyên nhân quen thuộc của chuyện "thay ổ mới chạy vài tuần lại hỏng", vì vòng bị bò làm mòn chỗ lắp, ổ mới cũng không giữ được.

Điểm thứ hai mà nhiều người không để ý: dung sai lỗ của vòng trong ổ lăn theo tiêu chuẩn ổ nằm hoàn toàn dưới kích thước danh nghĩa, khác với lỗ H thông thường có vùng nằm trên. Vì vậy cùng một trục k6, ghép với lỗ H7 là lắp trung gian, nhưng ghép với vòng trong ổ lại ra độ dôi rõ rệt. Catalog các hãng ổ thường khuyến nghị vùng trục quanh j, k, m cho tải nhẹ đến trung bình và lỗ thân quanh H hoặc J cho vòng ngoài đứng yên; tải nặng, va đập hay nhiệt độ cao có khuyến nghị khác. Luôn tra catalog của đúng loại ổ đang dùng.

Bốn nhóm chi tiết và lựa chọn hay gặp

Bảng dưới gom các trường hợp phổ biến. Cột vùng dung sai là ví dụ thường thấy trong sổ tay để bạn hiểu bản vẽ, không phải quy định bắt buộc.

Chi tiếtĐiều kiện làm việcLựa chọn thường thấyĐiều cần để ý
Vòng trong ổ lănTrục quay, tải hướng cố địnhTrục k5, k6, m6 tuỳ tảiLỗ ổ nằm dưới danh nghĩa nên thực tế chặt hơn tên gọi
Vòng ngoài ổ lănThân đứng yênLỗ thân H7, J7Ổ phía tự do cần trượt dọc trục khi trục giãn nở
Bạc trượt vào thânBạc đứng yên, chịu tảiLắp chặt kiểu H7/p6, H7/r6Lỗ bạc co lại sau khi ép
Trục trong bạc trượtTrục quay có bôi trơnLắp lỏng kiểu H8/f7, H7/g6Khe hở theo tốc độ, dầu và nhiệt
Chốt định vịĐịnh vị hai chi tiết, ít tháoLỗ H7, chốt m6Một chốt trụ, một chốt trám để khỏi kẹt
Then bằngTruyền mô men, bánh răng cố địnhThen h9, rãnh trục N9, rãnh moay ơ JS9Rãnh moay ơ D10 khi cần trượt dọc trục

Dòng ổ lăn phía tự do đáng nhấn mạnh: một trục dài đỡ trên hai ổ, khi chạy nóng trục giãn dài ra. Nếu cả hai ổ đều bị chặn cứng dọc trục, phần giãn nở này biến thành lực dọc trục phụ đè lên ổ. Thiết kế thường để một ổ cố định, ổ kia cho phép trượt nhẹ trong lỗ thân hoặc dùng loại ổ cho phép dịch chuyển dọc trục. Thợ lắp siết chặt nắp ổ phía tự do vì tưởng bị lỏng là đang làm hỏng ý đồ này.

Bạc trượt ép vào thân: lỗ bạc nhỏ lại sau khi ép

Bạc đồng, bạc thép lót hợp kim chống mòn thường được ép chặt vào lỗ thân, sau đó trục quay trong lỗ bạc với khe hở nhỏ. Bẫy kinh điển là lỗ bạc bị co lại sau khi ép, vì thành bạc bị nén bởi độ dôi với lỗ thân. Mức co phụ thuộc độ dôi thực, độ dày thành bạc, vật liệu bạc và độ cứng vững của thân. Một chiếc bạc gia công lỗ đúng vùng H8 trước khi ép có thể sau khi ép đã lọt xuống dưới giới hạn nhỏ nhất, và trục không vào được hoặc vào được nhưng bó nóng sau vài phút chạy.

Có hai cách xưởng hay làm. Cách thứ nhất là ép bạc trước, rồi doa hoặc tiện lại lỗ bạc tại chỗ để đạt kích thước cuối. Cách này chắc chắn nhưng cần đồ gá hoặc máy đủ lớn để gá nguyên thân. Cách thứ hai là gia công lỗ bạc lớn hơn một lượng bù trước khi ép, lượng bù lấy từ kinh nghiệm của chính xưởng với cùng loại bạc và thân, hoặc từ khuyến nghị của nhà sản xuất bạc. Cách thứ hai nhanh hơn nhưng chỉ an toàn khi đã có số liệu thực tế từ những lần trước.

Bạc tự bôi trơn bằng kim loại thiêu kết có tẩm dầu còn nhạy hơn: doa lại lỗ có thể bít lỗ xốp, làm mất khả năng tự bôi trơn. Với loại này, nhà sản xuất thường quy định dung sai lỗ thân và cách ép riêng, có khi dùng trục ép định cỡ. Trước khi xử lý một loại bạc lạ, bạn nên tìm tài liệu của chính loại đó thay vì áp dụng thói quen với bạc đồng đặc.

Chốt định vị và then: chi tiết nhỏ nhưng hay làm hỏng cụm lắp

Hai chốt định vị trụ là thừa ràng buộc. Khi định vị một nắp hoặc đồ gá bằng hai chốt trụ cùng lắp sát, chỉ cần khoảng cách hai lỗ ở hai chi tiết lệch nhau vài phần trăm milimét là không lắp vào được hoặc phải đóng mạnh. Cách làm quen thuộc là một chốt trụ và một chốt trám, chốt trám có hai mặt vát để chỉ khống chế một phương. Đọc bản vẽ đồ gá thấy hai lỗ chốt ghi giống hệt nhau, bạn nên hỏi lại.

Lỗ chốt nên doa cùng lúc khi có thể. Với hai chi tiết lắp lần đầu, nhiều xưởng bắt vít chặt, khoan và doa xuyên qua cả hai trong một lần gá, rồi mới ép chốt. Cách này cho độ trùng lỗ tốt hơn hẳn so với gia công riêng từng chi tiết theo toạ độ, nhất là khi không có máy doa toạ độ.

Then bằng có ba vùng dung sai khác nhau. Bề rộng then thường theo vùng h9, rãnh trên trục và rãnh trên moay ơ chọn vùng theo kiểu ghép: ghép bình thường hay dùng N9 cho trục và JS9 cho moay ơ, ghép chặt dùng P9 cho cả hai, ghép trượt cho bánh răng di trượt dùng H9 cho trục và D10 cho moay ơ. Phay rãnh rộng quá tay thì then lắc, mô men truyền qua va đập và rãnh bị dập dần.

Then không thay cho lắp ghép đúng. Then chỉ truyền mô men; việc định tâm bánh răng trên trục vẫn do lắp ghép giữa lỗ và trục đảm nhiệm. Lỗ bánh răng doa rộng quá, trông cậy then giữ, là nguyên nhân bánh răng đảo và ăn khớp ồn.

Đo chỗ lắp ổ khi sửa máy: trục mòn, lỗ thân mòn

Ở tổ bảo trì, câu hỏi về lắp ghép thường đến sau khi ổ đã hỏng: chỗ lắp cũ còn dùng được không. Trước khi lắp ổ mới, nên kiểm theo trình tự sau, sau khi máy đã được khoá nguồn, treo thẻ và nguội hẳn.

  • Lau sạch chỗ lắp, quan sát vết bò của vòng ổ cũ: vệt bóng loáng quanh chu vi, vết xước xoắn hay màu sẫm do nhiệt là dấu hiệu vòng đã xoay trên trục hoặc trong thân.
  • Đo đường kính trục tại chỗ lắp ổ bằng panme ở ít nhất hai mặt cắt và mỗi mặt cắt hai phương vuông góc, để thấy cả mòn côn lẫn méo.
  • Đo lỗ thân bằng đồng hồ đo lỗ đã chỉnh về kích thước chuẩn, cũng ở nhiều vị trí; lỗ thân mòn thường bị ô van theo hướng tải.
  • Đối chiếu kết quả với vùng dung sai khuyến nghị trong catalog của ổ đang dùng, không đối chiếu với cảm giác lắp của ổ cũ.
  • Nếu chỗ lắp đã ra ngoài vùng, ghi lại và báo người phụ trách để chọn cách phục hồi phù hợp như phun phủ rồi gia công lại, đóng ống lót cho lỗ thân, hoặc thay trục; mỗi cách cần đánh giá theo tải và tốc độ của máy.
  • Ghi số đo vào hồ sơ máy kèm ngày, để lần sau biết tốc độ mòn và có số liệu khi hỏi AI hay hỏi hãng.

Lắp ổ mới lên chỗ lắp đã mòn rồi trông vào keo hay chêm lá là cách khiến máy quay lại xưởng sau vài tuần. Phần chẩn đoán vì sao ổ hỏng, từ tiếng ồn, độ rung đến nhiệt độ, thuộc danh mục chẩn đoán và sửa máy của trang.

Dùng AI đối chiếu ký hiệu lắp ghép trên bản vẽ lắp

Khi nhận một bộ bản vẽ lắp nhiều trang, trợ lý AI giúp liệt kê và soát nhanh các ký hiệu lắp ghép. Một quy trình gọn:

  1. Che khung tên, tên khách hàng, mã dự án và logo trên bản vẽ hoặc chỉ chép phần thông tin cần hỏi thành danh sách chữ.
  2. Liệt kê từng mối ghép theo dạng: chi tiết bao, chi tiết bị bao, ký hiệu, điều kiện làm việc như trục quay hay thân quay, có tháo thường xuyên không.
  3. Câu lệnh mẫu: "Dưới đây là danh sách mối ghép trong một hộp giảm tốc nhỏ. Với mỗi dòng, hãy cho biết kiểu lắp là lỏng, trung gian hay chặt, lý do thường gặp khi chọn kiểu đó, và đánh dấu dòng nào có vẻ không hợp với điều kiện làm việc kèm câu hỏi cần hỏi người thiết kế."
  4. Đọc các dòng AI đánh dấu, đối chiếu với catalog ổ lăn và sổ tay. AI có thể đánh dấu nhầm hoặc bỏ sót, nên đây là danh sách câu hỏi, không phải kết luận.
  5. Gửi câu hỏi cho người thiết kế hoặc kỹ sư phụ trách, ghi câu trả lời vào hồ sơ chi tiết để lần sau khỏi hỏi lại.

Phần ký hiệu trên bản vẽ được trình bày thế nào, đặt ở đâu, thuộc danh mục bản vẽ kỹ thuật của trang. Ở đây trọng tâm là hiểu ý đồ để gia công và lắp cho đúng.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao ổ bi mới thay lại bị lỏng trên trục sau vài tuần?

Thường do vòng chịu tải quay không được lắp đủ chặt nên bò dần quanh trục, làm mòn chỗ lắp. Cũng có thể trục đã mòn từ trước, hoặc chọn sai vòng phải lắp chặt khi thân quay. Cần đo lại đường kính trục và đối chiếu với khuyến nghị của catalog ổ.

Có nên dùng keo chống xoay thay cho lắp chặt ổ lăn không?

Keo chống xoay có thể dùng để giữ ổ khi chỗ lắp hơi mòn trong sửa chữa tạm, theo hướng dẫn của nhà sản xuất keo. Nó không thay được lắp ghép đúng trong thiết kế mới, và gây khó khi tháo ổ ở lần bảo trì sau.

Làm sao biết lượng bù co lỗ khi ép bạc?

Lượng bù phụ thuộc độ dôi thực, độ dày thành bạc, vật liệu và độ cứng của thân. Cách đáng tin là đo lỗ bạc trước và sau khi ép ở vài lần đầu, ghi lại cho từng loại bạc, hoặc làm theo khuyến nghị của nhà sản xuất bạc.

Chốt trám khác chốt trụ thế nào?

Chốt trám có hai mặt được vát đi, chỉ tiếp xúc với lỗ theo một phương. Dùng chung với một chốt trụ, nó khống chế xoay mà không bị kẹt khi khoảng cách hai lỗ ở hai chi tiết lệch nhau chút ít.

Then lắc trong rãnh có sửa tạm được không?

Rãnh bị dập rộng thường phải sửa bằng cách phay rộng rãnh và dùng then bậc, hoặc làm rãnh mới lệch góc nếu thiết kế cho phép. Chêm lá mỏng chỉ là cách tạm, dễ bung khi chạy có va đập; với máy chịu tải lớn nên hỏi người có chuyên môn.

AI có chọn lắp ghép thay người thiết kế được không?

Không nên. AI có thể giải thích lựa chọn hay gặp và đặt câu hỏi soát, nhưng không biết tải thật, nhiệt độ, tốc độ và lịch bảo trì của máy. Quyết định cuối cùng phải dựa trên tính toán, catalog và người có chuyên môn.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926 138 138